Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương

17

Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương

Bài làm

Hình ảnh của người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở cho nền văn chương kim cổ Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của một người chồng đã ít nay lại viết về người vợ đang sống lại còn hiếm hoi hơn. Trần Tế Xương là một trong những bậc thầy hiếm hoi của nền thơ ca trung đại Việt Nam đã đưa hình ảnh người vợ tần tảo của mình qua bài Thương vợ.Hãy cùng phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương để thấy rõ hơn điều này nhé

Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương

Mở đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, Qua đó bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với người vợ chăm chỉ “tần tảo” sớm mai của mình:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Mạch cảm xúc của thi phẩm dần dần mở ra với bức tranh toàn cảnh đầy nỗi khó nhọc, lo toan của bà Tú .Tác giả đã sử dụng “Quanh năm” – cụm từ chỉ một khoảng thời gian trường kỳ lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên để cực tả nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải dài hết ngày tháng này sang ngày tháng khác, năm này qua năm nọ mặc cho nắng gắt hay mưa rào vẫn không bỏ sót giây phút nào cả. Chưa dừng lại ở đó, cách cân đo, đong đếm như thế của thời gian còn góp phần làm bật lên cái không gian, địa điểm bán buôn của bà Tú thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” rất trắc trở, đầy rẫy những hiểm nguy khôn lường bởi lẽ đó chỉ là một doi đất nhô ra phía lòng sông nơi người làng chài thường tụ tập buôn bán nên những khi tiết trời khắc nghiệt, địa thế chênh vênh mỏng manh kia sẽ dễ sạt lở gây nhiều khó khăn cho bà Tú.

Xem thêm:  Phân tích truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh

Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương

Dù vất vả là thế nhưng Bà Tú vẫn: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Cách tính năm con với một chồng là hạ thấp mình ngang hàng. Đây là một phép ẩn dụ ngụ ý hạ thấp người chồng sánh với những đứa con vốn chỉ là kẻ ăn bám vợ, vô tích sự.Tự cười mình là kẻ báo cô, làm cho nhân cách của ông Tú càng đáng quý và ông càng đề cao công lao bà Tú, tỏ lòng biết ơn trong đó có chút ăn năn. Có thể nói, trong phần nhập đề, Tác giả đã ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

Hai câu thơ tiếp theo đã tô đậm thêm chân dung bà Tú:

“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Loading...

Tác giả đã miêu tả nỗi vất vả của người vợ mình bằng câu mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng”.  Nỗi cực nhọc để bà Tú kiếm sống nơi “mom sông” tưởng như những khó khăn đó không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ.

Từ láy tượng “Eo sèo”  gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng’” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời buổi khó khăn.

Xem thêm:  Màu sắc Nam Bộ trong truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi

Tiếp đến là hai câu thơ luận, ở đây tác giả đã khéo léo vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận.

“Một duyên hai nợ, âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công.”

Một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa là những thành ngữ dân gian. Việc sử dụng thành ngữ rất tự nhiên đã góp phần Việt hóa ngôn ngữ thơ Đường. Âu đành, dám quản là những từ ngữ hết sức tự nhiên và là ngôn ngữ đời thường chúng ta hay dùng. Từ đó làm toát ra đức hi sinh thầm lặng vô biên của bà Tú. Nhưng ở đây có thái độ cam chịu, sự nhẫn nhục của người phụ nữ phong kiến.

Cuối cùng trong hai câu kết, Tác giả đã sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Từ đó mà giãi bày nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Hơn nữa Tú Xương cũng thấu hiểu nỗi đau của vợ để rồi “ thương vợ , cảm thông cho vợ cũng như thương chính bản thân mình vậy”. Nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

Khi đi phân tích bài thơ Thương vợ của Tế Xương chúng ta sẽ thấy đây là bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ trong bài thơ tuy rất bình dị như là tiếng nói từ đáy lòng nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỷ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa).

Xem thêm:  Phân tích truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi

Đi phân tích bài thơ Thương Vợ của Tế Xương chúng ta thấy rõ nổi lên trên hình ảnh người vợ là chất chứa rất nhiều tình cảm mà tác giả dành cho người vợ của mình với một tấm chân tình thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. Bài thơ “ Thương vợ” thuộc thể loại trữ tình đặc sắc của tác giả Tú Xương khi nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

Loading...

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây