Home / Tài liệu học tập / Văn mẫu lớp 10 / Phân tích bài ca dao Cưới nàng anh toan dẫn voi lớp 10 hay đầy đủ

Phân tích bài ca dao Cưới nàng anh toan dẫn voi lớp 10 hay đầy đủ

Phân tích bài ca dao Cưới nàng anh toan dẫn voi lớp 10 hay đầy đủ

Hướng dẫn

Ca dao muôn đời là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn người lao động. Người xưa mượn ca dao như một cách kí gửi lòng mình. Phong tục cưới xin cũng là một đề tài quen thuộc mà ca dao hướng tới. Với lối nói hóm hỉnh, ca dao đã tái hiện chân thực cảnh xin cưới và thách cưới qua bài ca dao sau:

  • "Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
  • Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
  • Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
  • Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.
  • Miễn là có thú bốn chân,
  • Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.
  • Chàng dẫn thế em lấy làm sang,
  • Nỡ nào em lại phá ngang như là…
  • Người ta thách lợn thách gà,
  • Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:
  • Củ to thì để mời làng,
  • Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.
  • Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!
  • Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;
  • Bao nhiêu củ rim, củ hà,
  • Để cho con lợn, con gà nó ăn…"

Bài ca dao là tiếng cười tự trào đầy yêu đời, lạc quan của người nông dân trước cảnh nghèo. Song chọn đúng cảnh cưới để bộc lộ chính tâm hồn mình, lấy cái nghèo để cười, để vui. Phải chăng, khi con người ta tự cười chính mình cũng chính là lúc tâm hồn họ được bộc lộ rõ nhất? Chuyện dẫn cưới là chuyện vui. Câu chuyện vui ấy mà buồn nhưng buồn mà lại hóa vui. Buồn chuyện dẫn cưới sao nhiều điều phải suy nghĩ thế! Đó là lẽ thường của người dân nghèo. Họ nghèo, sao đủ sính lễ để đi xin cưới? Nhiều đôi trai gái vì món đồ dẫn cưới quá nặng mà phải đứt gánh giữa đường. Nhưng ở bài ca dao này, câu chuyện dẫn cưới đã được giải quyết một cách khéo léo mà rất mực tự nhiên, hợp tình, hợp lí. 

Xem thêm:  Trong Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân tự coi mình lả người "đi tìm... tươi vui và bền vừng". Theo anh (chị), chất vàng quý báu của thiên nhiên và của người lao động Tây Bắc đã được nhà văn phát hiện và mô tả như thế nào qua bài tùy bút của mình

Trước sự việc hệ trọng của đời mình, hai người đã tâm sự, bàn bạc với nhau trước khi chính thức đi đến đám cưới trong nay mai. Chàng trai là người đầu tiên mở lời trước, bộc lộ những suy nghĩ, trăn trở của mình:

  • "Cưới nàng anh toan dẫn voi
  •   Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn 
  •   Dẫn trâu, sợ họ máu hàn
  •   Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân. 
  •   Miễn là có thú bốn chân
  •   Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng"

Lời nói khoa trương, phóng đại của chàng trai được hé mở với động từ "toan" cùng các lễ vật sang trọng: "dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò". Chàng trai đã tưởng tượng ra những lễ vật linh đình, nhưng mỗi lần nói là mỗi lần thay đổi và đưa ra những lí lẽ khéo léo: dẫn voi – quốc cấm, dẫn trâu – họ máu hàn, dẫn bò – họ nhà nàng co gân. Nhưng lí lẽ này không phải là ngoa, nó hoàn toàn có thể chấp nhận được. Nhà chàng trai nghèo không thể có đủ đầy những sính lễ sao sang kia, anh đã mượn cách nói phủ định để khéo léo nói về gia cảnh mình. Chàng giải thích lí do không dẫn các lễ vật cao sang kia một cách khôn ngoan: vì tôn trọng luật pháp, phần vì lo lẳng cho sức khỏe họ hàng nhà gái. Một chàng rể thật chu đáo và hết mực lo lắng cho mọi người! Lối nói khoa trương ấy có mức độ giảm dần: "voi – trâu – bò – chuột". Dẫn cưới bằng con chuột không có nghĩa là chàng trai coi thường người con gái, anh đã đưa ra lí do rằng chúng giống nhau: đều là thú bốn chân. 

Xem thêm:  Anh (chị) hãy phân tích bài: Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu

Cô gái bình tĩnh, thản nhiên, không chối bỏ, không từ chối mà cảm thông và đầy chia sẻ: 

  • "Chàng dẫn thế, em lấy làm sang 
  • Nỡ nào em lại phá ngang như là…"

Cô gái hiểu cho gia cảnh chàng trai. Cùng cảnh lao động nghèo nên họ cảm thông cho nhau. Họ đến với nhau bằng nghĩa tình chứ không phải vì vụ lợi vật chất. Bằng tấm lòng chân thành của mình, cô gái ôn tồn giãi bày ý định của mình:

  •   "Người ta thách lợn thách gà,
  •   Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:
  •   Củ to thì để mời làng,
  •   Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.
  •   Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!
  •   Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;
  •   Bao nhiêu củ rim, củ hà,
  •   Để cho con lợn, con gà nó ăn…"

Một lời thách cưới thật bình dân! Thách như thế không có nghĩa là cô không tôn trọng lệ làng. Làng là những vị chức sắc tổ chức và chứng giám cho hôn lễ của hai người, cô gái dành cho những củ to, củ ngon. Những củ nhỏ hơn mời họ hàng bởi họ cũng đều là phận con đen, dân đỏ, đồng cảnh nghèo đói nên họ sẽ cảm thông và hiểu cho. Trẻ con vô tư, hồn nhiên, với những củ mẻ, chúng sẽ ăn mà không đòi hỏi gì hơn nữa. Lễ vật mà cô thách cưới giản dị quá, bình thường quá! Câu nói của cô như mở lòng, mở dạ cho chàng trai, khiến chàng thoát khỏi tình thế phân vân, lúng túng. Hai tiếng "chàng ơi" nghe chất chứa yêu thương, trìu mến. Một nhà khoai lang – nghe tưởng quá nhiều nhưng đó là thứ lễ vật mà chàng trai có thể dễ dàng kiếm được. Chàng trai, cô gái đã bước qua rào cản của lễ vật sang trọng, lớn lao để đến với nhau bằng tình nghĩa đáng trọng, bằng tình yêu chân thành. 

Xem thêm:  Kể về một người thân của em, bài văn mẫu kể chuyện về ông bà của em

Với hình thức lời đối đáp vui đùa của chàng trai, cô gái trong tình yêu, bài ca dao đã thể hiện những quan điểm nhân sinh rất đẹp đẽ. Bài ca dao tiếng cười tự trào trong cảnh nghèo, trong cảnh thách cưới nhưng đã thể hiện quan điểm tiến bộ của người bình dân về hôn nhân. Với họ, hôn nhân là kết quả của tình yêu, dựa trên sự đồng cảm, sẻ chia và nó có sức mạnh đánh bại bất cứ vật chất tầm thường nào. 

Bài ca dao tự nhiên như lời nói, suy nghĩ ngày thường của con người mà để lại những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời. Bài ca dao nhắc nhở mỗi người bài học về sự thấu hiểu, đồng cảm trong tình yêu chân chính. 

Check Also

kenhhocduong img - Bình luận câu thơ của Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?

Bình luận câu thơ của Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?

Bình luận câu thơ của Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *