Cảm nhận về bài thơ Tự Tình

6

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương.

Bài làm

Cảm nhận về bài thơ Tự Tình – Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một trong những “hiện tượng” đặc biệt mới mẻ trong dòng thi ca cổ điển Việt Nam. Thơ bà Hồ thoát khỏi niêm luật chặt chẽ Đường thi để tự bộc lộ bản lĩnh mạnh mẽ, phóng khoáng vượt ra khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiến xưa. Bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương là ví dụ tiêu biểu.

“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Bài thơ “Tự tình” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú của thơ Đường luật có bố cục 4 phần: Đề, Thực, Luận, Kết bày tỏ tâm trạng của người phụ nữ trước số phận dang dở, chuân chuyên, cô đơn trong xã hội phong kiến. Qua đó, Hồ Xuân Hương ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất đồng thời đồng cảm với số phận bất hạnh của người phụ nữ. Bài thơ như tiếng nói tố cáo, vạch trần bộ mặt xã hội phong kiến độc đoán, chuyên quyền, bất công đẩy kẻ “tài hoa” vào con đường “mệnh bạc”.

Hồ Xuân Hương đã “tự tình” trong khoảng thời gian và không gian quen thuộc:

“Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Không gian lúc này đây ta có thể cảm nhận được nó dường như cũng đã lại bao trùm bởi âm thanh tiếng trống canh. Nó gợi về những ngày xưa ấy có tiếng trống điểm, báo hiệu thời gian đã về lúc “canh khuya”. Không giống với tiếng trống thúc sưu thuở chị Dậu, không giống tiếng mõ chiều thời chiến khu Việt Bắc chống Pháp… tiếng trống canh trong thơ Hồ Xuân Hương lạnh lùng, tàn nhẫn. Nó báo hiệu tuổi xuân con người đã vào lúc tàn tạ. Nghe như văng vẳng xa xa nhưng dồn về thức tỉnh người phụ nữ tự nhận thức thân phận.

Xem thêm:  Hãy bàn luận về câu nói: Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi (Ngạn ngữ Trung Quốc)

Nhân vật trữ tình đang “trơ cái hồng nhan”. Hồng nhan chỉ người phụ nữ có tài, có sắc. Còn đối với từ “trơ” thực sự nó lại  mang nhiều ý nghĩa. Có thể hiểu “trơ” theo nghĩa tiêu cực, tức là trơ trẽn, không biết xấu hổ. Vậy ra người hồng nhan thời ấy là không tốt hay sao? Từ “Trơ” mà tác giả sử dụng ở đây dường như cũng có thể hiểu là trơ trọi hay là sự trơ vơ. Người hồng nhan đang cô độc chăng? Hay là cả cả hai đây?

Cảm nhận về bài thơ Tự Tình

Cảm nhận về bài thơ Tự Tình

Hình ảnh “cái nước non” từng gặp trong bài thơ “Bánh trôi nước” một lần nữa lặp lại trong “Tự tình” như nỗi ám ảnh của nhà thơ. Cái nước non ám chỉ cuộc đời đầy sóng gió, chìm nổi, đa mang mà chính bà Hồ đã tự bươn trải. Qua đây, ta thấy bi kịch của người phụ nữ trong bài thơ là tuổi xuân tàn phai và cô độc giữa sóng gió cuộc đời.

Loading...

Hai câu thực tiếp theo khắc họa một người phụ nữ đa tình nhưng sầu muộn:

 “Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.”

Với nhịp thơ 4/3 và những ngôn từ giàu sức biểu tượng, hai câu thơ rất thành công trong việc thể hiện tâm trạng muộn phiền, dang dở, thất vọng của nhà thơ về cuộc đời.

Xưa nay chuyện uống rượu dưới trăng không hiếm trong thơ Đường. Nhưng cảnh tượng vốn quen thuộc ấy lại thật lạ lùng thơ bà Hồ. Người phụ nữ không uống rượu mà chỉ là thưởng rượu, thưởng hơi men. Vậy mà người phụ nữ ấy lại say được ư? Có lẽ không. Chỉ là tự lòng người muốn say mà thôi! Say men đời. Say men tình. Ba chữ “say lại tỉnh” gợi bi kịch của con người. Ta nhớ lại tên “quỷ dữ làng Vũ Đại” ngày ấy – Chí Phèo của truyện ngắn “Chí Phèo” (Nam Cao) có đoạn Chí tìm đến để giết Bá Kiến, đòi “lương thiện”, hắn cũng trong trạng thái càng uống rượu càng tỉnh. Vì hắn ý thức được bi kịch của chính mình. Người phụ nữ trong “Tự tình” cũng vậy. Vì ý thức được bi kịch bản thân nên càng chìm vào men say lại càng tỉnh táo hơn.

Xem thêm:  Bình luận câu nói: Chìa khóa nhiệm mầu bước vào đời là lòng kiên nhẫn

Bi kịch ấy là gì? Bi kịch đó được tác giả phản ánh vào trong ánh trăng. Trăng đến lúc “bóng xế” nhưng vẫn “khuyết chưa tròn”. Ánh trăng đã đi quá nửa chuỗi thời gian mà nó có của một đêm, nhưng nó vẫn chưa khi nào được tròn đầy. Đôi mắt chất chứa niềm đau thương của cuộc đời ấy chưa bao giờ thấy trăng tròn.

Những chèn ép, nén nhịn cảm xúc từ những câu thơ trên nay được bộc lộ thành sức phản kháng mãnh liệt:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”

Hai động từ mạnh là “xiên nagang” và “đâm toạc” bộc lộ trạng thái cảm xúc gần như mất kiểm soát của người phụ nữ. Loài rêu yếu ớt như vừa đâm thủng lớp vỏ địa cầu. Đá dưới suối vừa vút lên xé tan bầu trời cao rộng. Và người phụ nữ vừa phá tan không gian, xoay chuyển thời gian, hủy hoại mọi thứ quanh mình. Người phụ nữ thời phong kiến lạc hậu, lắm lễ giáo, nhiều hủ tục hàng nghìn năm vừa sụp đổ trước thơ Hồ Xuân Hương.

Cuối cùng sự phản kháng ấy vẫn đi vào vô vọng. Hiện thực đau khổ hiện lên:

“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Người đọc như nhận thấy được “Xuân” nó lại như đã tượng trưng cho tuổi trẻ của con người. Tuổi trẻ của Hồ Xuân Hương bị cầm tù nơi lầu son, gác tía đến mức “ngán”. Mỗi mùa xuân qua đi, tuổi tác già thêm, ấy là nỗi sợ hãi của bao người phụ nữ. Nhưng Hồ Xuân Hương đã chán trường quá rồi, đã thôi lo sợ rồi. Vì sao? Vì chỉ kiếp “lấy chồng chung”, kẻ thì “chăn bông”, kẻ phải “lạnh lùng”. Chỉ có độc một mảnh tình nhỏ bé nay phải chia sẻ với người phụ nữ khác nên còn “tí con con” – ít ỏi tới mức tối thiểu. Cay đắng biết bao nhiêu!

Xem thêm:  Bàn luận về hiện tượng tảo hôn đối với học sinh THPT

Tóm lại, bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương phản ánh nỗi sầu muộn, cô độc, chán trường của người phụ nữ tuy có tài sắc nhưng lại chịu số phận bi thương. Qua đó, ta thêm cảm thông hơn với số phận của họ và căm ghét xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, ngang trái.

Hoài Lê

Loading...

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây